Cuộc sống học sinh tại trường trung học nội trú ở Mỹ (phần 3) - Du học Acura

Cuộc sống học sinh tại trường trung học nội trú ở Mỹ (phần 3)

Phần 1, phần 2 trong loạt bài viết giới thiệu về các khía cạnh cần biết về trường trung học nội trú ở Mỹ, những ưu điểm, và những giá trị mà trường trung học nội trú ở Mỹ đã nhắm đến.

Tiếp theo trong phần 3, các vấn về trong cuộc sống ở trường học, đồng thời cũng là những vấn đề các phụ huynh Việt Nam đều rất quan tâm khi quyết định cho con đi học tại một trong những trường trung học nội trú ở Mỹ. Hi vọng loạt bài viết về các trường trung học nội trú ở Mỹ sẽ giúp cho PH và học sinh có cái nhìn bao quát hơn về loại hình trường này.

Trường trung học nội trú ở Mỹ

  1. Cuộc sống ở trong trường nội trú

Ở kí túc xá

Khi có người hỏi trường nội trú có giống Hogwarts hay không, Russell Pecka không đề cập về những ngôi nhà, tòa nhà, hay phòng ăn, mà anh ấy kể về các giáo viên. Pecka là học sinh lớp 12 tại Trường Cao đẳng Trinity ở Port Hope, Ontario.

Anh nói rằng: “Giáo viên tại Hogwarts có vẻ không ủng hộ hoặc tốt bụng với học sinh cho lắm.” Ngược lại, “tất cả các giáo viên từng dạy tôi đều rất sẵn lòng giúp đỡ và quan tâm chân thành đến thành công của tôi.” Điển hình là giáo viên dạy Hóa của anh, người đã đề nghị dạy kèm thêm cho học sinh vào cuối tuần mỗi khi họ cần thêm chút hướng dẫn về tài liệu. “Tôi chưa bao giờ học ở trường nào mà giáo viên lại sẵn sàng làm vậy đấy.”

Pecka quyết định theo học trường Trinity College chủ yếu nhờ những danh tiếng được truyền đến tai anh qua những người anh họ đang theo học tại trường, cũng nhờ những thông tin về chương trình giáo dục mạnh mẽ tại đó.

Tuy rằng ban đầu nội trú không phải là một trong những yếu tố cho quyết định của anh, nó lại trở thành một điểm cộng. Lúc ấy cha mẹ Pecka bắt đầu chuyển nhà thường xuyên hơn vì lí do công việc. Ngẫm lại, anh cảm thấy hối hận vì đã không đi học nội trú sớm hơn. “Việc học của em trai tôi sẽ không bị gián đoạn như của tôi khi chúng tôi chuyển nhà.”

Với anh, sự nhất quán đó rất quan trọng, cả về lâu dài cũng như trong cuộc sống hàng ngày. Khi nói chuyện với anh, thật rõ rệt rằng Pecka đánh giá khá cao những thói quen có ở trường Trinity. Anh nói rằng: “Tôi đặt rõ là phải ăn sáng mỗi ngày bởi vì tôi thường sẽ có một ngày tồi tệ nếu tôi không ăn. Tiếp theo, tôi sẽ đi đến Nhà nguyện lúc 8:10.

Trường trung học nội trú ở Mỹ

Trường Trinity là một trường Anh giáo; tuy nhiên, trường không đặt áp lực trong việc cải đạo hoặc tham gia vào hoạt động tôn giáo. Khoảng thời gian sinh hoạt trong Nhà nguyện là lúc mà cả cộng đồng có thể tập trung lại và suy ngẫm về ngày trước đó và về cách sống của họ.”

Anh tiếp tục nói: “Sau đó, tôi đi đến hai lớp đầu tiên trong ngày. Trường Trinity phân khối/chu kỳ giờ học mà theo đó, chúng tôi sẽ học tám tiết trong vòng hai ngày. Rồi tôi được nghỉ trưa một tiếng, lúc ấy tôi có thể đi họp câu lạc bộ và đi chơi với bạn bè. Sau khi học xong hai lớp cuối cùng trong ngày, tôi sẽ đi tham gia hoạt động thể thao mà tôi đã chọn, đó là môn bóng quần. Tôi chơi đến tận 5:15 thì đi ăn tối. Sau đó, hầu hết các học sinh sẽ bắt buộc phải đến lớp để học từ 7h-9h, rồi chúng tôi có thể tự do làm bất cứ điều gì chúng tôi muốn đến 11 giờ.”

Một ngày như vậy là khá ổn: không phải đi lại, mối quan hệ giữa các cá nhân mạnh mẽ, và ý thức độc lập và trách nhiệm ngày càng tăng. Chẳng hạn, anh ăn sáng không phải vì anh bị ép buộc, mà vì kinh nghiệm của chính anh qua những ngày bỏ ăn sáng.

Mặc dù sự cân bằng giữa khuôn phép và sự tự do sẽ không phù hợp với mọi học sinh, Pecka lại cảm thấy rằng sự cân bằng này phù hợp với mình. Anh, cũng như tất cả các học sinh nội trú, nhận được sự cố vấn mỗi ngày từ các học sinh lớp trên, người lớn trong khu kí túc và giáo viên.

Các giá trị xã hội thường được quyết định qua sự xuất sắc thay vì sự nổi loạn, điều này đúng trong mọi lĩnh vực đời sống của học sinh, từ trong lớp học ra sân chơi và ký túc xá. Joe Seagram là hiệu trưởng của trường King’s-Edgehill ở Windsor, Nova Scotia. “Nếu cậu bạn cạnh phòng bạn đang đánh răng và chuẩn bị đi ngủ, và cậu ấy lớn tuổi hơn bạn và bạn thật sự ngưỡng mộ cậu ấy, thì bạn sẽ làm điều tương tự.

Nếu cô gái ngồi cạnh bạn trong giờ học hơn bạn vài điểm và cô ấy đang ngồi im lặng làm bài, thì bạn có thể sẽ làm theo. Các học sinh lớp trên tại trường chúng tôi là những hình mẫu tuyệt vời giúp cho những học sinh lớp dưới thấy được những điều cần phải làm để đạt được thành công.”

Cuộc sống trong ký túc xá hoặc ở trong trường nội trú có vui không?

“Cuộc sống trong trường nội trú thật sự khá là thú vị. Bạn phải tự lo nhưng đồng thời cũng không hẳn là như vậy, và nó thúc đẩy sự trưởng thành của bạn.”

—Zach Bogosian, cầu thủ Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc gia, đã khá thành công trong môi trường nội trú

Trường nội trú khá vui và thậm chí còn có một số trường rất tuyệt vời … với một số giới hạn. Khu ký túc xá là nơi ở của học sinh từ tất cả các khối lớp mà chương trình nội trú có. Hầu hết học sinh đều có bạn cùng phòng chung khối, và nhà ở có khu vực để sinh hoạt chung tại gia và vào buổi tối.

Trường trung học nội trú ở Mỹ

Học sinh thường sống trong trường suốt năm học, bao gồm cả cuối tuần và các ngày lễ theo quy định. Một số trường có tùy chọn ở nội trú trong 5 ngày. Các sinh viên sẽ ở trong khuôn viên trường và sống trong ký túc xá vào các ngày trong tuần, còn cuối tuần thì về nhà với gia đình.

Học sinh sẽ được chỉ định một cố vấn (advisor) với vai trò là để mắt đến tình trạng của học sinh, và đưa ra lời khuyên về chương trình, học tập và các hoạt động ngoại khóa. Học sinh có thể gặp advisor hàng ngày, tuy nhiên cơ hội gặp mặt khá mở và trôi chảy. Các advisor sẽ báo cáo tình hình cho phụ huynh và người giám hộ thường xuyên, và cũng có thể được tiếp cận nếu có câu hỏi.

Mỗi trường đều yêu cầu học sinh ký và tuân thủ theo một bản quy tắc về hành vi và ứng xử mà khá nghiêm ngặt trong mọi trường hợp. Kinh doanh ma túy, buôn bán rượu bia, xâm phạm tình dục, tống tiền và sở hữu vũ khí hoặc chất nổ đều dẫn đến việc đuổi học ngay lập tức.

Các tội không được khoan nhượng khác bao gồm hút thuốc, sử dụng thuốc bất hợp pháp và bắt nạt. Học sinh và gia đình của họ thường có cơ hội gặp mặt với hiệu trưởng, nhưng việc đuổi học sẽ không được xử lý một cách quá nhẹ nhàng hay quá hấp tấp.

Nếu một sinh viên đã hoàn thành các yêu cầu tốt nghiệp tương đương với yêu cầu tốt nghiệp của bang, trường sẽ cấp bằng tốt nghiệp cấp bang, nếu ngược lại, học sinh sẽ mất tất cả học phí và cơ hội nhận bằng tốt nghiệp.

trường trung học nội trú ở Mỹ

Tranh minh họa từ quyển Lịch sử của trường Eton College 1440-1875, được viết bởi Ngài Henry Churchill Maxwell Lyte. Khi lịch sử trường được xuất bản vào năm 1877, Eton đã hoạt động với tư cách một trường nội trú được hơn bốn thế kỷ.

Hệ thống nhà/ căn hộ (house)

Nhà là một nét truyền thống của các trường nội trú, là một trong những điều làm tăng thêm niềm vui và giúp tận hưởng cuộc sống ở đó. Hệ thống này đã được áp dụng tại các trường học trong Khối thịnh vượng chung. Tất nhiên, quen thuộc nhất là hệ thống nhà tại Hogwarts trong phim Harry Potter. Nó tuy là viễn tưởng, nhưng cũng chính là khái niệm cơ bản phản ánh nên hiện thực.

Khi học sinh đến trường, họ sẽ được chỉ định vào một nhà và sẽ thuộc về nhà đó cho đến khi tốt nghiệp. Mỗi tòa ký túc xá thường sẽ có một nhà tương ứng, tuy nhiên không phải lúc nào cũng vậy. Số lượng nhà tại mỗi trường sẽ khác nhau, con số thường dao động trong khoảng từ 4 đến 10—ví dụ, Trường Bishop Strachan có 12 nhà, trong khi trường Rothesay Netherwood chỉ có 4.

Nhà tại các trường nội trú có chương trình bán trú có thể bao gồm cả học sinh bán trú và nội trú, hoặc, như tại trường Trinity College và trường Upper Canada College, nhà trường sẽ có nhà riêng cho học sinh nội trú và nhà riêng cho học sinh bán trú.

Quy ước đặt tên của các trường không giống nhau. Thông thường, nhà sẽ được đặt theo tên của những người đã đóng một vai trò nổi bật trong sự phát triển của trường, như Trinity và St. Margaret’s, hoặc có thể được hình thành xoay quanh một chủ đề nào đó, chẳng hạn như địa lý tại địa phương. Nhà vẫn đang là một yếu tố truyền thống trong trường nội trú, còn tên, phương châm và biểu trưng thường phản ánh một truyền thống nào đó lớn hơn.

Hệ thống nhà tạo nên cơ sở cho tinh thần tập thể và những cuộc thi giữa các học sinh. Thông thường, các nhà sẽ cạnh tranh để giành điểm, và điểm này sẽ được tích lũy trong suốt năm học. Ví dụ, trường St. Margaret’s tích lũy cả điểm học tập lẫn điểm thể thao để cạnh tranh cho Cúp Margaret Barton về Thử thách giữa các Nhà (trong học tập) và Cúp Godson (trong thể thao).

Nhà cũng là nền tảng cho cảm giác thân thuộc và nhận thức về bản thân, điều này có thể đặc biệt hữu ích cho các học sinh mới thích nghi với cuộc sống ở trường. Nhà là một nhóm nhỏ hơn, mang tính cá nhân hơn trong cộng đồng học sinh tại trường học, và điều đó tạo nên cơ sở cho công tác mục vụ trong trường.

Không giống như các trường công, hệ thống nhà của trường nội trú không được phân theo khối lớp, mà được sắp xếp một cách tự do, với mỗi nhà bao gồm học sinh từ tất cả các khối lớp tại trường. Học sinh lớp trên có thể được chỉ định cho những người lớp dưới để hỗ trợ, tuy nhiên thường thì những mối quan hệ đó cũng tự hình thành và phát triển.

Nhà thường sẽ có cả giáo viên và học sinh đứng đầu. Học sinh lãnh đạo được bổ nhiệm làm đội trưởng hoặc quản lý (prefect) nhà, và các nhân viên được chỉ định làm trưởng (housemaster/housemistress) cho mỗi nhà.

Các điều khoản giữa các trường không giống nhau—tại trường Bishop’s, các lãnh đạo nhân viên được gọi là nội trợ (houseparents) —mặc dù tất cả các trường đều có sự giám sát suốt ngày đêm của nhân viên.

Điểm khác biệt nhiều nhất giữa nhà trong thực tế so với nhà ở Hogwarts là chúng lạc quan hơn nhiều, ít độc ác hơn và sự cạnh tranh giữa chúng ít gay gắt hơn. Trong thực tế, nhà tạo nên cơ cấu và khuôn phép xã hội, trong đó, học sinh sẽ tương tác, cạnh tranh và giao tiếp. Giống như các nhóm ở chung cabin trong trại hè, chúng có thể đem lại ý nghĩa quý giá về sự thân thích, chia sẻ kinh nghiệm, và nơi mỗi người thuộc về.

trường trung học nội trú ở Mỹ

Bốn nhà tại trường Rothesay Netherwood, tỉnh bang New Brunswick, được đặt theo tên của các gia đình cầm quyền của Anh: Stuart, York, Tudor, và Lancaster.

Khi mọi việc không như mong muốn

Trường nội trú có tệ không, vì nó thường được thể hiện như vậy trên các phương tiện truyền thông? Khi bình luận về một vụ tấn công tại một trường nội trú, ông Shamus Kahn nói, “Thành thật mà nói thì tôi không hề ngạc nhiên về điều đó.” Khan, một giáo sư xã hội học tại Đại học Columbia, nói thêm, “nhưng tôi cũng sẽ không bị ngạc nhiên bởi nó nếu nó xảy ra ở bất kỳ trường cao đẳng hay trung học nào.”

Kahn đã bình luận về một trường hợp tấn công tình dục xảy ra vào năm 2014 tại trường St. Paul’s, thành phố Concord, bang New Hampshire. Khan là cựu sinh viên của trường, và mặc dù ông đã lưu ý với tờ Boston Globe rằng vụ tấn công có thể xảy ra ở bất cứ đâu, ông tin rằng điều này vẫn gây chú ý trên các tiêu đề tin trên toàn quốc, chính xác là vì nơi nó xảy ra và đối tượng mà nó xảy đến với.

Trong những ngày và tháng sau vụ tấn công, trường St. Paul’s đã được mô tả là ưu tú và độc đáo một cách bất biến trên báo chí (nói cách khác, ngụ ý rằng các trường nội trú đều xấu, chỉ vì một sự cố này). Hung thủ Owen Labrie được mô tả trên báo là một học sinh xuất sắc, nổi tiếng, được nhận đặc quyền, ưa nhìn, và khỏe mạnh.

Anh đã được nhận vào học tại đại học Harvard sau khi tốt nghiệp, điều này đã đặt dấu chấm kết thúc cho hồ sơ của Labrie với tư cách là một sinh viên trường nội trú rập khuôn, theo như giới truyền thông đã trình bày.

Cả Labrie và phòng hành chính của trường St. Paul’s đều trở thành những cột thu lôi cho những thành kiến và sự chế giễu của toàn quốc. Câu chuyện đã trở thành biểu tượng, như một bản cáo trạng, nhấn mạnh các đặc quyền cũng như những lạm dụng của trường nội trú.

Nó được miêu tả là kết quả của một nghi thức đánh dấu sự thay đổi tại khu vực, truyền thống này thậm chí còn có tên: chào học sinh cuối cấp (senior salute). Việc chủ nhiệm học sinh thừa nhận rằng ông nhận thức được sự hiện diện của truyền thống này nhưng không làm gì để can thiệp đúng đắn đã gây ra sự phẫn nộ cho các phụ huynh đã tin tưởng trường với việc chăm sóc con cái họ.

“Trường quả thực đã biết, nhưng tôi không chắc rằng họ hoàn toàn hiểu ý nghĩa của truyền thống đó,” ông Tim Hillman đã viết như vậy vào thời điểm đó, ông còn bổ sung thêm rằng các trường “khốn thay không thể kiểm soát hoạt động tình dục trong khuôn viên trường.”

Trong tờ The New Yorker, Jeannie Suk đã viết rằng trường hợp này đã “làm sáng tỏ nhu cầu giáo dục ở trường về một thái độ lành mạnh về tình dục” và “ việc giáo dục phải chú trọng đến thái độ của cả nam lẫn nữ.”

Tuy nhiên, đa số những người biết đến câu chuyện qua các phương tiện truyền thông đều đổ lỗi cho những người trong trường nhiều hơn là những người ở ngoài.

Giới tính , tình dục, danh tính trong trường trung học nội trú ở Mỹ

Trường nội trú không phải là một liều thuốc trị bách bệnh. Không có trường học nào, cho dù có là nội trú hay không, miễn nhiễm với các vấn đề và định kiến xã hội trong một bối cảnh văn rộng lớn như vậy. Hơn nữa, mối quan hệ giữa vấn đề giới tính, tình dục và nội trú đã luôn là một vấn đề khó khăn.

Tại một thời điểm, thay vì kiểm soát vấn đề tình dục, phụ huynh đã tìm đến trường nội trú để thực thi những gì họ cho là hành vi chuẩn mực. Ted Rogers, nhà sáng lập Công ty Truyền thông Rogers, kể lại rằng, “bác sĩ nhi khoa của tôi đã khuyên mẹ tôi rằng tôi nên đến một môi trường cho nam giới vì nếu tôi ở nhà với mẹ và một cô giữ trẻ, tôi sẽ trở thành một kẻ ẻo lả.” Hồi đó ông mới bảy tuổi.

Đúng là các trường nội trú nam vào thời điểm đó không dành cho “những đứa ẻo lả,” ít nhất là theo cách mà Rogers đã có thể hiểu từ ngữ đó. (Ở một mức độ nào đó, từ ngữ đó gián tiếp thể hiện sự khó chịu trong văn hóa về đồng tính luyến ái.)

Các trường học đặt ra một tầm nhìn rất kỳ dị, hạn hẹp về sự nam tính. Đối với một số phụ huynh—và dường như cũng đối với một số bác sĩ nhi khoa—chỉ nhờ mỗi vậy mà họ có động lực để gửi con đến trường nội trú. Nơi ấy đã không phải là nơi để bạn tìm lại bản thân, tinh lọc sở thích của bạn, hoặc phát triển thành chính con người bạn hay hình tượng mà bạn muốn trở thành.

Rogers chắc chắn không phải là một “kẻ ẻo lả” trong cuộc sống khi trưởng thành của ông, một lần nữa, theo nghĩa mà ông đã đón nhận từ ngữ đó. Chúng ta sẽ không bao giờ biết đó có phải là kết quả của môi trường giáo dục nội trú mà ông đã học không. Đối với những người khác, kinh nghiệm lại rạn nứt hơn.

Ông Michael Ignatieff, cũng giống như Rogers, là học sinh tại trường Upper Canada College (UCC). Khi nhìn lại, ông nói rằng “logic của việc học nội trú [vào thời điểm đó] về cơ bản là để học sinh xa nhà trong giai đoạn dậy thì , để đưa các cậu bé xa khỏi cha mẹ khiến chúng trở thành những con thú trong giới tính một mình.”

“Môi trường giáo dục đơn giới tính đã sinh ra một nỗi ám ảnh cụ thể về đồng tính luyến ái, là điều mà bây giờ tôi rất hối hận. Tôi có những cảm xúc rất mãnh liệt đối với đàn ông, một phần cảm xúc đó được nuôi dưỡng trong quá trình học tại môi trường đó.

Tuy nhiên, tôi có một nỗi lo lắng to lớn về việc vượt qua ranh giới để đạt đến trải nghiệm đồng tính luyến ái. Tôi nghĩ không có gì sai và không phù hợp về việc đàn ông yêu nhau. Nhưng điều đó thật khó khăn trong ngôi trường đó, và nó đã trở nên khó khăn hơn mức cần thiết.”

Có một mối căng thẳng trong thời của Ignatieff mà có lẽ đã nhẹ nhàng hơn đối với chúng ta thời nay, giá như vấn đề giới tính ít rối rắm hơn. Tuy nhiên, thay vào vị trí của nó là những mối căng thẳng mới, xuất phát từ sự hiểu biết về lợi ích quyền lợi cũng như các hành vi lạm dụng tiềm tàng.

Ông Ignatieff cho biết: “Tôi nghĩ rằng nó rất quan trọng đối với một cậu bé, đối với một chàng trai trẻ, để thấy một hình tượng nam tính mà cậu ấy có thể tin vào.” Các trường ngày càng chú ý đến cách họ có thể nhắm đến các học sinh về việc học tập, xã hội, và giới tính, và để cung cấp một hình tượng, từ cả nam lẫn nữ, mà Ignatieff mô tả.

Trường nội trú có đáng để học không?

Cuối cùng, phụ huynh và học sinh muốn biết liệu trường nội trú có đáng không: học phí, việc tách khỏi cha mẹ, việc tách khỏi xã hội, v.v. Một số yếu tố này, tuy nhiên, đã quy tụ lại để hình thành phẩm chất lãnh đạo độc đáo ở học sinh và sinh viên tốt nghiệp trường nội trú, và đối với hầu hết những người đầu tư vào nội trú, câu trả lời cuối cùng là một chữ “Có!”

Năm 2003, Chris Studer học lớp 7 tại trường UCC, và đã được công nhận là một kẻ bắt nạt. “Tôi chắc chắn đã là một kẻ tiểu nhân,” anh nói khi phản ánh lại nhiều năm sau đó, thừa nhận rằng nó xuất phát từ sự bất an của anh và mong muốn tìm một chỗ đứng trong đời sống xã hội của trường.

Sự bất an của anh đã khiến anh xỉ vả những người khác biệt, hoặc được coi là khác biệt so với anh ta, đặc biệt là xung quanh vấn đề xu hướng tình dục. Tại một diễn đàn được tổ chức tại trường vào năm 2013, Studer đã mời Calum Mew lên sân khấu cùng anh, đó là một trong những người mà anh đã bắt nạt trong suốt những năm trước đó. Cả hai đều kể câu chuyện của riêng mình, và Studer lên tiếng hối tiếc.

Tất nhiên quá khứ đó không thể thay đổi nữa, nhưng sự tham gia trên diễn đàn của Studer và Mew rất có ý nghĩa trong sự tận tụy hiện tại cho một chương trình cố vấn về giới tính, tình dục và toàn bộ các mối quan hệ mà học sinh chia sẻ trong thời gian ở trường.

Đó là biểu tượng cho một cuộc thảo luận cởi mở hơn, là thành tựu của Liên minh Gay-Straight nhằm tạo cơ hội để công nhận sự đa dạng về giới tính và danh tính tại trường, điều đã được ban giám hiệu nhà trường xác nhận khởi đầu vào năm 2001.

Dự án được tạo ra để tạo nên sự mong đợi và khuyến khích một môi trường ủng hộ và cởi mở. Điều thú vị là nó cũng tạo cơ hội để ngoái nhìn lại, như đã diễn ra với Studer, để nhận thức và giải quyết quá khứ.

Một Liên minh Gay-Straight (GSA) đã được thành lập tại trường Trinity College vào năm 2002 khi một giáo viên thẳng (dị tính) tập hợp một nhóm học sinh ức chế với vấn đề sử dụng các ngôn từ xúc phạm và hành vi quấy rối đang diễn ra tại trường. Nó vẫn đang hoạt động đến tận ngày hôm nay, và sự tham gia ngày càng nhiều.

Tại đó, cũng như tại các trường khác với một chương trình tương tự, mức độ người tham gia có lẽ cũng không quan trọng bằng việc trình bày sáng kiến.

Tucker Barton là một giáo viên tại trường Trinity College: “Học sinh trường chúng tôi lên tiếng về tầm quan trọng của việc ban giám hiệu hỗ trợ các hoạt động của họ, bởi vì nó được xem rộng rãi bởi cả trường như một lời nói rằng ‘chúng tôi đồng ý với điều đó.’”

“Học sinh trường chúng tôi cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc GSA, như bất kỳ câu lạc bộ nào khác, có một chỗ đứng trong các ấn phẩm và kỷ yếu của trường.

Giống như bất kỳ thay đổi nào, bước đầu tiên là chấp nhận rằng những học sinh này có quyền bình đẳng được nhìn thấy những điều đại diện cho bản thân và gia đình họ trong trường. Bước thứ hai là quyết tâm tìm ra một hướng đi lành mạnh để họ được bao gồm và bàn luận trong tập thể nhà trường.”

Trường trung học nội trú ở Mỹ

Hiển nhiên, các trường học luôn phản ánh văn hóa ở trong đó. Những lý tưởng văn hóa tiềm ẩn trong ngôn ngữ, chương trình giảng dạy, và truyền thống của trường, điều này đã luôn như vậy từ trước tới giờ. Trong phần lớn lịch sử của chúng ta, trường học là một phương tiện để thiết lập và duy trì hiện trạng, với nhu cầu của xã hội là yếu tố phát động chính.

Ngày nay, hơn bao giờ hết, thì ngược lại: các trường nội trú không phải là để duy trì hiện trạng, mà là để phấn đấu cho một điều gì đó tốt hơn, và hoạt động nhằm tạo nên một mô hình về việc có thể và nên sống như thế nào, với tư cách là một quốc gia.

“Việc chúng ta phải làm gián đoạn các văn hóa lấn át là rất quan trọng,” Nicols cho biết, “chúng ta sẽ làm vậy bằng cách chất vấn các chuẩn mực hiện tại và đưa các truyền thống mới bao quát hơn vào đời sống học đường và chương trình giảng dạy.”

Dự án về Phẩm chất

Các chương trình và sáng kiến mới, chẳng hạn như Dự án về Phẩm chất của UCC, đã được lập ra để thúc đẩy chính sự gián đoạn đó. Vào năm 2015, Jim Power, hiệu trưởng trường UCC, đã mô tả Dự án về Phẩm chất là một biện pháp để đạt được điều mà ông cảm thấy cần thiết cho một nền giáo dục hoàn chỉnh.

Trong một bài phát biểu trước tập thể học sinh, ông nói rằng “cho dù chúng tôi có thể thấy các em học toán, tiếng Pháp và tiếng Anh như thế nào … nhưng chúng tôi vẫn không thể xác định chính xác được câu trả lời cho những câu hỏi quan trọng hơn: các em đối phó với nghịch cảnh như thế nào? Các em có thể hiện được sự can đảm trong các thời điểm quan trọng? Và quan trọng nhất, các em đang trở thành loại người như thế nào?”

Ông Power tin rằng mục tiêu của nền giáo dục không chỉ bị giới hạn bởi lý thuyết suông. Cũng trong bài diễn văn ấy, ông đã nói rằng nó cũng “giúp tất cả các em tìm thấy và trở thành con người tuyệt vời nhất của bản thân mình,” đó là một quá trình bao gồm sự phát triển cảm xúc xã hội, sự trưởng thành, khả năng đưa ra quyết định, và sức khỏe tâm lý.

45

Để đúng với mục tiêu đó, vào năm 2014, trường đã tạo ra một vai trò mới, đó là vai trò Người Tích Hợp Phẩm Chất. Ngoài việc dạy tiếng Anh và Nghệ thuật Đóng kịch, Laurie Fraser đã trở thành thành viên đầu tiên của khoa đảm nhận chức vụ này.

Fraser cho biết: “Việc [học sinh] có ý thức tự chủ và cảm thấy như họ có tầm ảnh hưởng trong trường là rất quan trọng, bởi vì sự gắn kết và tự chủ trong cuộc sống học đường của họ làm mối liên kết giữa họ và văn hóa của trường thêm sâu đậm.”

Dự án về Phẩm chất là một phần của cam kết đang diễn ra nhằm cho phép học sinh có được mối liên kết đó và tạo cơ hội cho họ áp dụng nó theo những cách hữu hình và ý nghĩa.

Fraser nói rằng: “Thật sự rất khó để hành động trong một thế giới với lòng tốt và sự hào phóng khi bạn còn chẳng hề cảm thấy tốt ở bên trong. Trong một loạt các hội thảo, chúng tôi trò chuyện về sức mạnh phẩm chất và trụ cột của hạnh phúc, bao gồm các cảm xúc tích cực, sự gắn kết, mối quan hệ, tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống và nắm được ý nghĩa của việc thành đạt trong cuộc sống”.

Dự án về Phẩm chất và các chương trình tương tự đều công nhận việc đạt được nhận thức về bản thân và tìm ra ý nghĩa và thành tựu trong cuộc sống là một quá trình mà tất cả chúng ta đều trải qua.

trường trung học nội trú ở Mỹ

Laurie Fraser đang điều hành Dự án về Phẩm chất của trường UCC. “Trong một loạt các hội thảo, chúng tôi trò chuyện về sức mạnh phẩm chất và trụ cột của hạnh phúc, bao gồm các cảm xúc tích cực, sự gắn kết, mối quan hệ, tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống và nắm được ý nghĩa của việc thành đạt trong cuộc sống.”

Khi nào thì nên học nội trú

“Tôi không nghĩ rằng bất cứ ai lại háo hức muốn nói lời tạm biệt với con cái họ,” bà Katrina Samson cho biết. “Chúng vẫn là những đứa trẻ. Việc đi khỏi nhà là một vấn đề khá lớn.”

Và tất nhiên rằng sẽ có những rủi ro, đặc biệt là khi quyết định học nội trú không được thực hiện với lợi ích tốt nhất của đứa trẻ. Khi con trai bà Camilla Parker-Bowles, Tom, hỏi tại sao bà lại gửi cậu đến trường nội trú khi mới 7 tuổi, bà đã trả lời với sự hối tiếc sâu sắc rằng đơn giản là vì “đó là việc con đã làm, thế thôi.”

Cũng có những lý do tồi tệ khác, và đa số chúng thường được nêu ra như những lời chỉ trích về chính trường tư thục: để làm quen với giới thượng lưu, tìm bạn đời từ những gia đình giàu có, để chứng minh sự giàu có hoặc địa vị xã hội.

Phụ huynh của các học sinh nội trú cũng không thể tránh khỏi việc đưa ra quyết định vì những lý do sai lệch, cho dù quyết định đó có đúng đi chăng nữa. Đối với bà Camilla Parker-Bowles, hậu quả mang lại là cảm giác hối tiếc và mất mát; đối với Tom, con trai bà, đó là một cảm giác bị phản bội. Trải nghiệm trong trường nội trú là một trong những điều mà cậu đã phải cố hết sức để làm quen.

Truyền thống gia đình hoặc văn hóa chắc chắn không thể bị gạt phắt ra được, vì chúng có thể là động lực rất mạnh mẽ và quan trọng. Trong nhiều trường hợp, chúng đều dễ thực thi và có lợi. Tuy nhiên, các quyết định dựa trên một mình các tiêu chí đó có thể khá mơ hồ.

Sự trưởng thành

Sự trưởng thành có thể mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Ở mức cơ bản nhất, nó đề cập đến tuổi tác, và càng ngày, chúng ta càng khá chắc chắn rằng trẻ em dưới 11 hoặc 12 tuổi không nên được gửi vào trường nội trú.

Bà Joy Schaverien, một nhà trị liệu tâm lý, đã đặt ra thuật ngữ “hội chứng trường nội trú” để mô tả một loạt các hành vi và triệu chứng mà bà nhận thấy ở những người trưởng thành đã từng học nội trú ở Anh khi còn nhỏ.

Trong một bài báo năm 2011 trên Tạp chí Tâm lý trị liệu của Anh, bà đã viết: “Trẻ em bị gửi đi học xa từ nhỏ phải chịu sự mất mát đột ngột và thường không thể chối bỏ về những sự gắn bó cơ bản trong cuộc sống của chúng; đối với nhiều đứa trẻ, điều này tạo nên một chấn thương tâm lý lớn.

Để có thể thích nghi với chế độ ấy, đứa trẻ có thể cần tạo nên một lớp vỏ bọc phòng thủ và bảo vệ bản thân; con người thực sự của chúng sẽ được chúng giấu kín. Thói quen này sẽ bóp méo các mối quan hệ gần gũi và có thể tiếp tục đến tận khi trưởng thành.

Cha của Schaverien, cho dù đã 70 năm trôi qua rồi, vẫn mang ký ức mãnh liệt về nỗi đau khi bị bỏ lại ở trường nội trú khi còn nhỏ. Ông mới sáu tuổi trong lần đầu nhập học, và chúng ta có thể cho rằng ông đã không được đóng góp ý kiến vào quyết định đi học nội trú.

Ông Nick Duffel là tác giả của quyển Cách Tạo Ra Chúng (The Making of Them) về thái độ của người Anh đối với trẻ em và hệ thống trường nội trú. Trong đó, ông đã viết về kinh nghiệm của chính mình về trường nội trú khi nhập học vào năm 8 tuổi (năm 1957).

Thật khó để nghĩ ra một lý do chính đáng để tách một đứa trẻ bảy, tám tuổi ra khỏi gia đình. Ông Duffel và bà Schaverien đã lên tiếng phản đối việc gửi trẻ nhỏ vào trường nội trú. Đó là một tục lệ vẫn còn tồn tại ở Anh, tuy rằng nó đang dần trở nên ít phổ biến hơn.

Vấn đề này không chỉ đơn thuần là về thiệt hại có thể xảy ra, mà còn là về những gì trường nội trú có thể cung cấp và những gì nó không thể.

Trưởng thành về mặt cảm xúc

Truyền thống của nước Anh, ít nhất là tại một số thời điểm nhất định trong lịch sử, đã phản ánh tư tưởng thời Victoria rằng trẻ em chỉ được trông thấy chứ không được lắng nghe. Gửi chúng đi học nội trú là một cách để củng cố sự phân chia giữa cuộc sống của trẻ em và người trưởng thành.

Ngày nay, chúng ta hiểu rằng trường nội trú được suy xét tốt nhất chủ yếu qua góc nhìn của một đứa trẻ, và được xem là phương pháp tốt nhất để hỗ trợ sự phát triển trí tuệ và bản thân của đứa trẻ ấy. Sidney Crosby đã theo học nội trú vì anh đã tự nhìn thấy những cơ hội ở đó, những cơ hội phù hợp với mức độ trưởng thành và mục tiêu cá nhân của anh.

Có lẽ chính quan điểm đó đã tạo nên sự khác biệt cho truyền thống học nội trú đang tồn tại ở Bắc Mỹ ngày nay. Một số trường sẽ chấp nhận học sinh nội trú 12 tuổi và đang lên lớp 7, tuy nhiên đa số các chương trình không nhận học sinh dưới 13 tuổi.

Tương tự, hầu hết các trường sẽ không yêu cầu học sinh nhập học khi lên một lớp nhất định hoặc ở một độ tuổi nhất định, thay vào đó, họ lấy ám hiệu từ trẻ làm yếu tố quyết định.

Sự trưởng thành về mặt cảm xúc là điều mà các nhân viên tuyển sinh đánh giá trong một cuộc phỏng vấn tuyển sinh, và sẽ không có gì lạ nếu phụ huynh được yêu cầu đợi thêm một hoặc thậm chí hai năm nữa.

Họ thường sẽ khuyên các bậc cha mẹ cho con mình một khoảng thời gian giải lao trong quá trình giáo dục và chuyển sang học nội trú tại một thời điểm mà chúng cảm thấy tự nhiên.

Barbara Coloroso cho biết: “Nhìn chung thì chẳng có một độ tuổi thần kì nào cả, nhưng có thể con bạn lại có đấy. Bạn cần xem năng khiếu và nhu cầu của con là gì. Vị trí hiện tại của chúng đang ở đâu? Tình hình của chúng đang như thế nào? … Hãy tin vào chính quyết tâm và linh tính của bạn để quyết định thế nào là tốt cho con bạn.”

“Bất cứ ai đã làm công việc này lâu như chúng tôi đều nắm rõ chu trình … Đầu năm học giống như một trại hè; mọi người đều bận rộn và vui chơi nên ít có thời gian để nhớ nhà. Nhưng khi trường bắt đầu vào hoạt động và lượng công việc nhiều lên, sẽ luôn có những ngày buồn bã.” …. “Ở đây, chúng tôi mang văn hóa đón nhận và luôn khuyến khích học sinh tìm kiếm sự giúp đỡ nếu và khi họ cần.

Rebecca McKay, giám đốc tuyển sinh tại trường Queen Margaret

Những yếu tố lôi kéo

Trong đa số trường hợp, học sinh được hướng tới trường nội trú dựa trên mục tiêu và mong muốn của họ. Ví dụ, trường Ba-lê Alberta thu hút học sinh không phải vì nó cung cấp môi trường nội trú, mà bởi vì nó mang đến cho học sinh cơ hội đắm mình trong loại hình nghệ thuật mà họ đam mê, và tham gia cùng những người bạn, cố vấn, và giáo viên có chung niềm đam mê đó.

Cho dù đó là nghệ thuật, khoa học, thể thao, giáo dục ngoài trời, kinh doanh hoặc các tiêu điểm giáo dục khác nhau, tất cả các trường nội trú đều mang đến những cơ hội cho đam mê của từng cá nhân.

Tương tự, nhà trường cung cấp cơ sở vật chất—một đài quan sát, các studio, một môi trường hợp tác—đây thường là những công cụ thiết yếu cho thành công của học sinh trong một lĩnh vực cụ thể.

Như Malcolm Gladwell đã lưu ý, rất có thể Bill Gates sẽ không có được thành công như bây giờ nếu ông không theo học tại trường Lakeside, một trường tư thục ở Seattle. Nhà trường có một chiếc máy tính để bàn, là thứ mà không có trường nào khác trong khu vực có vào thời điểm đó. Đó là một trong những thế hệ máy tính mới, thậm chí còn độc đáo hơn nhờ hợp tác với Đại học Washington.

Đại học Washington đã đặt một cổng máy tính tại trường Lakeside với liên kết trực tiếp đến máy chủ trong trường đại học. Năng khiếu rất quan trọng, nhưng cơ hội tiếp cận các công cụ phù hợp và một môi trường phát triển cũng rất quan trọng.

  • Hỗ trợ trong học tập
  • Trọng tâm của nhà trường
  • Thử thách
  • Cơ hội
  • Một cộng đồng với sở thích chung
  • Một môi trường thuận lợi cho sự phát triển

“ … chúng tôi đã cho bọn trẻ khá nhiều sự tự chủ trong quá trình chọn trường cấp ba, và tập trung vào việc tìm một ngôi trường phù hợp với chúng. Chúng tôi đã khá nhiệt huyết về điều đó, và về việc cho phép chúng chọn con đường học trường nội trú. Vì vậy, khi tôi nhìn thấy chúng được tự sở hữu quyết định của mình, chia sẻ sự nhiệt tình về trải nghiệm học nội trú, và tự xử lý tình huống một cách khéo léo và tự tin, tôi phải nói rằng: Tôi cảm thấy tự hào.”

–Anne Marie Kee, trường CAIS

Yếu tố thúc đẩy

Chính xác là vì các trường nội trú tham gia vào cuộc sống của một đứa trẻ 24/7, nên họ dành nhiều thời gian, sức lực và sự sáng tạo hơn các trường khác nhằm tạo ra một môi trường rộng mở và tích cực.

Các bậc phụ huynh cũng đánh giá cao điều này, chẳng hạn như Wille, người đã nhận thức được giá trị của mối quan hệ cố vấn và khả năng cung cấp cơ hội ấy của môi trường nội trú. Chúng ta đang sống trong một thế giới luôn tìm tòi cách khai thác nền công nghệ để đưa nền giáo dục đến với đông đảo công chúng hơn, và điều đó thực sự rất có giá trị.

Tuy nhiên, mối quan hệ cố vấn cũng mang ý nghĩa đáng kể, giúp đặt học sinh vào một bối cảnh thúc đẩy sự phát triển. Thông thường, việc chúng ta học hỏi từ ai và cách họ tiếp cận chúng ta đều có thể mang tầm quan trọng như chính bản thân các bài học.

“Bất cứ lúc nào, nếu con bạn đang gặp phải những vấn đề đang diễn ra và chưa được giải quyết, ví dụ như vấn đề bị bắt nạt, thì cha mẹ nên cân nhắc việc lựa chọn môi trường học tập khác.”

Erin McLaughlin cho biết thêm rằng: “Không có khoảng thời gian nào vượt quá giới hạn, đặc biệt nếu như đứa trẻ đang bị bạn bè nhắm đến hoặc phải đối mặt với những trở ngại không thể vượt qua trong bối cảnh hiện tại mà không có sự giải thoát nào trước mắt.”

Tương tự, số lượng các chương trình sẵn có đang ngày càng tăng. “Khi các nghiên cứu và hành động triển khai giúp đỡ trẻ em và thiếu niên với nhu cầu đặc biệt, cho dù là về hành vi, thể chất hay tinh thần, ngày càng phát triển, chúng ta càng thấy nhiều mô hình giáo dục chuyên dụng mới và thêm nhiều các trường học đang mở cửa. Đặc biệt, chúng tôi đã chứng kiến sự gia tăng trong việc tìm kiếm những chương trình này của các bậc cha mẹ.” Erin McLaughlin cho biết.

Năm 2007, Viện Fraser đã công bố một nghiên cứu cùng với Derek Allison, trong đó trình bày những phát hiện về các đối tượng lựa chọn trường tư và mục đích của họ. Trong số những phát hiện nổi bật nhất và thu hút sự chú ý của giới truyền thông vào thời điểm đó, những phụ huynh lựa chọn trường tư có lẽ không như chúng ta nghĩ.

Điều kiện kinh tế xã hội đã đa dạng hơn, và một số lượng đáng kể phụ huynh gửi con đến trường chưa từng học tại trường tư trong cuộc đời họ. Nghiên cứu cho thấy, hơn bao giờ hết, “họ đang lựa chọn có chủ ý,” và lựa chọn ấy dựa trên một loạt các tiêu chí rộng hơn. Điểm mấu chốt là: các lựa chọn trong việc giáo dục rất quan trọng, với các bậc cha mẹ đang tìm cách giải quyết các nhu cầu cụ thể của con cái họ.

Tiến sĩ David Harley là Trưởng khoa tại Học viện Robert Land ở Wellandport, bang Ontario. Ông cho biết rằng nhà trường sẽ nhận những nam sinh có vấn đề về tính khí. “Đặc trưng của hầu hết các nam sinh này là họ khá lười học, nhưng họ có nhiều tiềm năng hơn những gì họ đang thể hiện bên ngoài.”

Nhà trường cung cấp một cơ cấu và khuôn phép mà thường là yếu tố then chốt cho sự thành công của học sinh, tuy rằng nó có thể khá phiền hà đối với một số người. Trường cũng tuân theo triết lý sống sạch qua việc đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt đối với đồ ăn vặt và nhấn mạnh một loạt các hoạt động thể chất. “Nếu bạn giảm cân,” Harley cho biết, “hình ảnh cơ thể của bạn sẽ đẹp hơn, bạn sẽ cảm thấy tuyệt vời, và sẽ đạt điểm cao hơn.”

  • Cơ cấu và khuôn phép
  • Phát triển kĩ năng xã hội
  • Mối quan hệ cố vấn tích cực
  • Hỗ trợ trong học tập

Nguồn: tham khảo