Trung học nội trú tại Hoa Kỳ-Những điều cần biết (P2) - Du học Acura

Trung học nội trú tại Hoa Kỳ-Những điều cần biết (P2)

Trong phần 1 của bài viết một số ưu điểm của trường trung học nội trú tại Hoa Kỳ đã được Acura giới thiệu đến quý phụ huynh và các bạn. Phần 2 sẽ tiếp tục bài 1 nhằm giúp phụ huynh và học sinh nằm được đầy đủ thông tin để hỗ trợ cho việc ra quyết định cũng như tìm hiểu về các lựa chọn trường cho con em mình du học.

Quan hệ cố vấn (Mentorship)

Giáo viên, và thậm chí là các học sinh trong cùng trường, có thể nêu các kĩ năng lãnh đạo và làm gương để các học sinh nhỏ tuổi hơn noi theo.

Những gì cần tìm: khi đi thăm trường, hãy hỏi để được gặp mặt các giáo viên, đặc biệt là những người trong phân khoa mà con bạn thích hoặc quan tâm; trường nằm trong chương trình Duke of Edinburgh; những chương trình về kỹ năng lãnh đạo; tỷ lệ giáo viên-học sinh thấp.

Chúng ta dành rất nhiều thời gian để đề cập về chương trình giảng dạy, nhưng khi chúng ta hỏi những người đi trước về việc học của họ, chúng ta thường không hỏi “Hồi trước anh/chị theo học chương trình giảng dạy nào?” Thay vào đó, chúng ta hỏi, “Ai là người thầy/người cô có ảnh hưởng lớn nhất đến nhận thức của anh/chị về bản thân lúc ấy, và cả sau này?”

Trung học nội trú tại Hoa Kỳ

Nếu chúng ta đặt cả hai câu hỏi đó, một câu hỏi về chương trình giảng dạy và một câu hỏi về giáo viên, thì chúng ta có thể thấy rằng câu hỏi thứ hai nhận được câu trả lời thú vị hơn, với niềm đam mê mãnh liệt hơn. Có khả năng nhiều người Canada thậm chí còn không thể trả lời chính xác ý của câu hỏi đầu tiên.

Lý do nằm ở sự tồn tại của một mối quan hệ mà thường mang tính cá nhân và sâu sắc, đó là mối quan hệ cố vấn, được biết rộng rãi là “mentorship.” Những người thầy, người cô mà chúng ta thường nhớ nhất và biết ơn nhất là những người tiếp cận chúng ta như những người bạn, những người chia sẻ niềm đam mê của chúng ta và công nhận rằng đam mê ấy nằm ở trong chúng ta.

Họ cho chúng ta không gian để phát triển theo tiến độ riêng, và theo một cách riêng của chúng ta. Ngoài ra, họ còn truyền đạt cho chúng ta nhận thức về định hướng, mục đích, và truyền cảm hứng cho sự tò mò và mối quan tâm mà chúng ta đang mang.

Rene Girard, một nhà sử học, nhà phê bình và triết gia người Pháp, cho rằng việc học một cách sâu sắc nhất xuất phát từ mong muốn noi gương: chúng ta học vì chúng ta muốn giống như những người mà chúng ta đang học theo.

Tuy không hề nghĩ đến Girard hay cụ thể là tác phẩm của ông, Michelle Wille vẫn nắm được tâm lý bắt chước của học sinh. Do đó, bà đã quyết định ghi danh con gái mình vào trường St. Margaret’s ở Victoria, BC.

Ngay tại lúc đó, bà Wille đã nhận xét: “Chúng tôi đã đến thăm trường rất nhiều lần. Các cô giáo đều ăn mặc lịch sự, khéo léo trong lời ăn tiếng nói, và họ là những người phụ nữ mạnh mẽ — tôi muốn con gái tôi được dạy dỗ bởi những người như thế.”

Học hỏi bên ngoài lớp học

Các chương trình học nội trú sẽ cho bạn một sự kết hợp độc đáo giữa cuộc sống bên trong và bên ngoài lớp học.

Những gì cần tìm: những công cụ giáo dục phụ ngoài trời; những chương trình ngoại khóa; sự tận tụy đối với việc học tập thông qua trải nghiệm; các chương trình mạnh mẽ trong ký túc, bao gồm các sự kiện về tinh thần và cho cựu sinh viên; trường nằm trong chương trình Duke of Edinburgh.

Đặc biệt tại các trường ấp ủ văn hóa học tập qua trải nghiệm, các chương trình tạo điều kiện đưa học sinh ra khỏi lớp học được sử dụng để tiếp dẫn vào bài giảng chính diễn ra trong lớp.

Ví dụ, trường Fern Hill cho chạy một chương trình nghiên cứu thực địa bằng cách tận dụng chuyên môn của giáo viên cũng như vị trí của khuôn viên trường trong khu vực Ontario Greenbelt. Hoạt động đeo vòng cho chim—bắt chim, đeo vòng cho chúng, rồi thả chúng—giúp tiếp dẫn học sinh đến với các khái niệm về quản lý, nghiên cứu khoa học, và hệ sinh thái.

11

Tương tự, trường Cao đẳng Brentwood tận dụng việc khuôn viên trường nằm ở gần biển để tổ chức hoạt động điền kinh cũng như chương trình ngoại khóa về lĩnh vực sinh học biển với đối tác là Đại học British Columbia.

Tuy vậy, phần lớn những gì một đứa trẻ học được, bất kể loại trường chúng theo học, đều đạt được ở bên ngoài lớp học. Ở trong nội trú, các khu ký túc thực sự được coi là một nơi cư trú, nơi trẻ sinh hoạt và phát triển thay vì chỉ đơn thuần là một ký túc xá bình thường.

Các mối quan hệ mà chúng xây dựng đươc ở đó thường sẽ đi theo chúng đến hết cuộc đời. Quan trọng hơn nữa, các biện pháp được trẻ phát triển để triển khai các mối quan hệ gần gũi, hợp tác, đồng cảm trong khoảng thời gian ở đó cũng sẽ được giữ nguyên.

Văn hóa hợp tác và đồng trách nhiệm

Trường nội trú giúp làm tăng nhận thức và khả năng làm việc với người khác của giới trẻ.

Những gì cần tìm: các lớp học với bố trí để hợp tác: bàn thảo luận, bảng trắng trên cả bốn bức tường, đồ nội thất dễ di chuyển; một danh sách các giá trị giáo dục cốt lõi của trường; trường nằm trong chương trình Duke of Edinburgh.; tỷ lệ giáo viên-học sinh thấp.

Bà Katrina Samson, hiệu trưởng trường Appleby College, cho biết: “Trong quá khứ, phần lớn nền giáo dục, thậm chí ngay cả trên đại học, chỉ phụ thuộc vào sự thành công của một cá nhân. Nếu bạn có thể tự mình ngồi xuống và đọc sách giáo khoa, bạn có thể thành công mà không cần phải nói chuyện với bất kỳ ai khác.”

Ngày nay, tất nhiên những yêu cầu đã trở nên khác. Xu hướng của nền giáo dục tập trung nhiều hơn vào các kỹ năng hợp tác, chính xác là bởi vì lực lượng lao động sẽ đòi hỏi nỗ lực làm việc cùng nhau.

13

Bà Samson thừa nhận rằng điều này có thể khá mệt mỏi. “Sẽ mất nhiều thời gian hơn khi bạn phải hoàn thành những thử thách và kỹ năng đó. Vậy nên, đó sẽ là những gì bạn thấy trong môi trường lớp học hiện nay. Các học sinh đang làm việc theo nhóm, hoặc họ sẽ tỉnh táo và minh mẫn hơn. Họ đi lại và vận động nhiều hơn rất nhiều.”

Tại trường Appleby, nhiều phòng học được trang bị những chiếc bàn có thể được tách ra để tạo những không gian làm việc nhỏ hơn. “Khi không có ai trong lớp, mỗi phòng học đều trông giống nhau về cách bố trí.

Nhưng khi bạn đi dọc theo hành lang, ngang qua các phòng học đang diễn ra một buổi học, mỗi phòng sẽ trông rất khác nhau tùy thuộc vào ngày nào, lĩnh vực môn học nào, và những gì họ làm ngày hôm đó.”

Họ nhận ra rằng kiểu lớp học này giúp tạo ra nhiều cơ hội, và quan trọng không kém là trách nhiệm của những người học trò. Samson nói rằng, “đây là một buổi khám phá văn học do đích thân sinh viên dàn xếp. Nếu họ đến lớp mà chưa đọc bài, hoặc chưa hoàn thành được gì, thì sẽ không có bất kì điều gì xảy ra trong buổi học đó cả.

Trách nhiệm tìm kiếm và phân tích ý nghĩa bài đọc, đặt câu hỏi, giúp đỡ nhau với giáo viên đóng vai trò như một người hướng dẫn, thúc đẩy  những thắc mắc đó,… sẽ tạo nên ý thức trách nhiệm chung và sở hữu chung về việc khám phá và học hỏi.”

Phương pháp học này không đem hiệu quả ngang nhau trong mọi trường hợp, hoặc trong mọi môn học, lĩnh vực, cho dù người ta đã phát hiện ra rằng khái niệm đằng sau việc hợp tác và thảo luận có thể được áp dụng trong một số lĩnh vực mà chúng ta không muốn tham gia xây dựng bài trong thời gian đầu.

“Một ví dụ tuyệt vời sẽ là lớp toán,” Samson nói khi cô bước vào một phòng học nơi những tấm bảng trắng trải dọc theo tất cả các bức tường. “Các học sinh đang sẵn sàng, họ viết lên bảng những giải pháp cho một loạt các vấn đề, và sau đó họ rảo bước quanh phòng, mô tả cách họ tìm ra những giải pháp đó.”

Học sinh đang rất chủ động, họ áp dụng ý tưởng của bản thân vào thực tiễn và xem cách người khác tìm ra lối tiếp cận khác cho những vấn đề tương tự. “Khi họ phải trải qua quá trình suy nghĩ,” bà nói, “họ sẽ nhận ra một sự đồng sáng tạo kiến thức mà chắc chắn không hề tồn tại trong thời học sinh của chúng ta ngày xưa.”

Một lợi ích bất ngờ mà Samson nhận ra là các cơ hội đánh giá mà nó mang lại. “Đây là một mảnh ghép hiệu quả hơn nhiều giúp giáo viên đánh giá được quá trình tiến bộ của học sinh,” được sử dụng cùng với hệ thống bài kiểm tra truyền thống, “để nắm được điều gì có thể trở thành một thách thức trong tương lai và để chuẩn bị sẵn cho điều đó.”

Ngoài ra, học sinh còn có ý thức trách nhiệm cao hơn về việc sẵn sàng khi tới lớp, việc hoàn thiện các bài đọc hoặc bài tập được giao, và dành thời gian tham gia phát biểu với mọi người xoay quanh tài liệu học.

Một lợi ích bất ngờ mà Samson nhận ra là các cơ hội đánh giá mà nó mang lại. “Đây là một mảnh ghép hiệu quả hơn nhiều giúp giáo viên đánh giá được quá trình tiến bộ của học sinh,” được sử dụng cùng với hệ thống bài kiểm tra truyền thống, “để nắm được điều gì có thể trở thành một thách thức trong tương lai và để chuẩn bị sẵn cho điều đó.”

“… Với tôi, trường nội trú là một trải nghiệm mang lại thay đổi lớn trong việc học cách giao tiếp với người khác.”

—Pete Upham, Giám đốc điều hành Hiệp hội các trường nội trú

Hướng dẫn hoạt động xuyên khóa (cross-curricular)

Thời gian dư khi học nội trú tạo điều kiện kết hợp các chương trình giảng dạy với nhau.

Những gì cần tìm: không gian học tập linh hoạt; sự cống hiến cho việc hướng dẫn xuyên khóa; các chương trình được thiết kế để thúc đẩy sự kết hợp giữa nghệ thuật và khoa học.

Nhiều trường nội trú đã tạo ra các chương trình để phát triển kiểu môi trường giáo dục đó. Bà Wendy A. Milne là trợ lý trưởng phòng giáo dục tại trường Shawnigan Lake, nơi bà đã giúp lập ra Giờ Thiên Tài (Genius Hour), một bài tập xuyên khối, xuyên khóa.

Trong đó học sinh có nhiệm vụ dựng một dự án của riêng mình và hoàn thành nó. Những yêu cầu duy nhất là mỗi dự án đều cần có sự hợp tác, nghiên cứu, và một câu hỏi hướng dẫn rõ ràng.

“Ý tưởng ở đây là để xóa bỏ mọi rào cản trên con đường đến với sự sáng tạo,” bà Milne cho biết. “Đó là một phần của việc tạo nên nền giáo dục hiệu quả cho một thị trường việc làm mới [mà] chính chúng ta vẫn chưa nắm hết được.

Chúng tôi muốn dạy học sinh cách suy nghĩ, cách học, cách đặt câu hỏi và thậm chí là cách thất bại.” Các dự án có thể đi từ việc đơn giản như có được một giấc ngủ ngon hơn vào ban đêm, đến việc xây dựng một câu lạc bộ golf tốt hơn, rồi đến việc phức tạp hơn nữa như chẩn đoán bệnh Alzheimer.

Ông Andrey Petropavlovskiy đã phát biểu tại chương trình Giờ Thiên Tài đầu tiên vào năm 2015 rằng “Khắp nơi quanh trường, tôi có thể nghe thấy nhiều học sinh khác nhau bàn luận về các dự án mà họ đang làm. Vài dự án trong số đó nghe khá là tuyệt vời. Nếu là tôi, có lẽ tôi cũng chẳng bao giờ nghĩ đến điều như thế.”

Những bài học về Tòa nhà 20 tại Đại học MIT

Vào năm 1960, khi thành lập Viện Salk, ông Jonas Salk đã nói rằng “Giờ Thiên Tài đã được đẩy mạnh dựa trên niềm tin rằng công việc hiệu quả nhất được tạo nên ở ranh giới giữa các khuôn phép, và thông thường, những khám phá quan trọng nhất được tìm ra khi những ranh giới đó bị xóa nhòa.”

Ví dụ nổi bật nhất về lợi ích của việc làm mờ ranh giới chương trình giảng dạy, cũng là ví do mà các trường nội trú noi theo ngày nay, là Tòa nhà 20 tại MIT. Tòa nhà được xây tạm thời vào năm 1943 để có thêm chỗ thực hiện nỗ lực chiến tranh.

14

Người ta dự định sẽ chỉ cần nó trong cuộc chiến và sáu tháng sau khi chiến tranh kết thúc. Thế nhưng, nó lại tiếp tục tồn tại trong vòng hơn 50 năm sau và trở thành tòa nhà nổi tiếng nhất trong khuôn viên MIT.

Sau chiến tranh, tòa nhà được dùng để dự bị không gian trống, cung cấp văn phòng cho các nhà nghiên cứu và giáo sư từ các khoa và phòng ban khác nhau. Nhờ vậy, những người ngồi chung trong tòa nhà này cùng bày tỏ một phạm vi quan tâm và chuyên môn mang tính chiết trung. Tất cả mọi người trò chuyện với nhau, chia sẻ ý tưởng, và cuối cùng, họ tạo ra những khám phá quan trọng.

Các thí nghiệm về âm học đã dẫn đến sự thành lập của tập đoàn BOSE; câu lạc bộ mô hình đường sắt đã trở thành nền tảng cho những gì chúng ta biết về văn hóa hacker thời nay; Noam Chomsky đã trở thành tiên phong trong một làn sóng ngôn ngữ học mới.

Tất cả bọn họ đều ghi nhận rằng các cuộc thảo luận diễn ra trong hành lang, sự phối hợp giữa các ý tưởng và khái niệm mà họ đã ứng dụng đều đóng vai trò quan trọng trong công việc mà họ đã thực hiện.

Ông Walter Mitchell, trưởng khoa kiến trúc, cho rằng: “Mọi người yêu thích tòa nhà này không phải vì vẻ đẹp của nó hay sự thoải mái mà nó mang lại, mà là vì sự linh hoạt của nó. Điều chúng tôi học được từ sự thành công của Tòa nhà 20 là chúng tôi cần phải cung cấp các dịch vụ và thiết bị công nghệ hiện đại mà không trở nên quá cứng nhắc hay gò bó.”

Cũng nằm trong Tòa nhà 20 là các văn phòng trụ sở của Chương trình Tự học, Chương trình Đào tạo Cấp Trung học và Trung tâm Nghiên cứu Giáo dục. Cho dù tất cả sẽ được chuyển sang các tòa nhà khác, họ vẫn mang theo bài học về Tòa nhà 20.

Theo nhiều cách, sự phát triển của Phòng thí nghiệm Truyền thông của MIT (MIT Media Lab) chính là một kết quả trực tiếp. Nó được thiết kế để cung cấp một môi trường học tập linh hoạt dành cho các dự án với sự hội tụ của công nghệ, đa phương tiện, khoa học, nghệ thuật và thiết kế.

Ngoài MIT ra thì các trường nội trú là những đối tượng đầu tiên áp dụng và đã thiết kế các trang thiết bị để phản ánh những ý tưởng đó. Một trong số đó là trường Bishop Strachan, ngôi trường đã lập ra Phòng thí nghiệm Ý tưởng (Idea Lab) vào năm 2015.

“Hiện tại chúng tôi nhận ra rằng việc kết hợp các khuôn phép với nhau và cho phép chúng giao nhau một cách tự nhiên sẽ tiếp thêm sức mạnh cho nền giáo dục mà các cô gái trẻ trường chúng tôi cần trong thế giới ngày nay.”

Các chương trình xuyên khóa, như chương trình Giờ Thiên tài của trường Shawnigan, Chương trình Tư duy Tích hợp của trường Trafalgar Castle, và Phòng thí nghiệm Ý tưởng của trường Bishop Strachan, đều khá giống nhau.

Barry Welsh, phó hiệu trưởng trường Shawnigan Lake nói: “Chúng tôi muốn học sinh tìm thấy một niềm đam mê và trở nên thực sự đam mê với công việc họ làm. Đây không phải là việc đơn thuần ngồi phía sau một cuốn sách chờ đến lượt trả lời câu hỏi nữa.”

Sự sáng tạo trong học tập

Các trường học thường khá hiện đại trong việc cải tiến giáo dục và phương pháp giảng dạy.

Những gì cần tìm: một môi trường giảng dạy đa dạng; sử dụng công nghệ trong công tác giảng dạy; cơ hội lãnh đạo; học bổng và hỗ trợ tài chính; trình độ học vấn thuộc thế kỷ 21.

“Con cái chúng ta cần điều gì nhất?” Đó là câu hỏi mà Anne-Marie Kee đặt ra để làm nền tảng cho đoạn phát biểu mở đầu của bà tại hội nghị CAIS năm 2015. Một phần của câu trả lời là nhu cầu học hỏi và sáng tạo, điều này về sau đã trở thành trọng tâm của hội nghị mùa hè năm đó.

Tuy nhiên, họ đang đề cập đến giáo viên chứ không phải học sinh. Điểm mạnh của trường học là kết quả của sự đánh giá liên tục về những gì một đứa trẻ cần để lấp đầy tiềm năng của mình và chuẩn bị sẵn sàng bước vào thế giới sau khi tốt nghiệp.

Đó là một phần suy nghĩ của van Nostrand khi ông miêu tả trường nội trú như một cái “nhà kính” để giáo dục học sinh: những lợi ích về thể chế và vai trò của các trường nội trú đã và đang tiếp tục đóng vai trò trong việc đổi mới và phát triển nền giáo dục.

16

“Một cuộc cách mạng thực sự trong các phương pháp giảng dạy”

Một ví dụ điển hình là phương pháp Harkness, một phương pháp giảng dạy được sử dụng tại một số lượng lớn các trường tư thục và độc lập trên khắp Bắc Mỹ ở nhiều mức độ khác nhau.

Phương pháp này được đặt tên theo Edward Harkness, đây là kết quả của một khoản tài trợ mà ông đã gửi cho Học viện Philips Exeter, một trường nội trú và bán trú ở Exeter, New Hampshire vào năm 1930.

Harkness đã tài trợ khoản này với mục đích cải thiện phương pháp hướng dẫn trong lớp học. Theo ghi chú mà ông đưa cho hiệu trưởng, số tiền ấy dùng để chi cho bàn ghế chứ không phải cho công cuộc đào tạo hay đội ngũ giáo viên.

“Ý tưởng mà tôi có là phân chia các nam sinh theo tổ, mỗi tổ khoảng 8 người. … tại đó các nam sinh có thể ngồi quanh bàn cùng với một giáo viên, người sẽ trò chuyện cùng chúng và chỉ bảo chúng theo phương pháp hướng dẫn hoặc thảo luận.

Hoặc khuyến khích một cậu bé với sức học trung bình hoặc dưới trung bình lên tiếng, trình bày những khó khăn của mình để giáo viên nắm được những khó khăn đối với chúng. Đây mới là một cuộc cách mạng thực sự trong phương pháp giảng dạy.”

Harkness đã làm việc với thủ quỹ của trường, Corning Benton, để tìm ra một thiết kế phù hợp. Benton có sở thích làm đồ gỗ và sau một vài lần đầu làm thử, ông đã tạo ra được một chiếc bàn đáp ứng đúng các tiêu chuẩn mà Harkness đặt ra.

Không nên có đầu bàn, những người ngồi xung quanh sẽ ngồi ở những vị trí như nhau, và bàn sẽ được tạo hình theo cách mà không thể hiện sự phân chia cấp bậc hoặc vị trí ưu tiên. Hình dạng chiếc bàn phải đảm bảo rằng tất cả mọi người trong bàn có thể nói chuyện trực tiếp với nhau và cảm thấy được bao gồm bất cứ khi nào người khác đang nói.

Nó sẽ mang hình bầu dục thay vì hình tròn để tạo nên phần thân hẹp hơn nhằm giảm khoảng cách giữa các học sinh, giúp mang họ lại gần nhau hơn.

17

Ngày nay, những chiếc bàn do chính tay Benton tạo ra vẫn đang được sử dụng tại Học viện Philips Exeter. Kích thước của chúng quá lớn để có thể vừa với cửa phòng học, nên chúng đã được giữ nguyên tại chỗ. Và cũng không hề ngạc nhiên khi bây giờ chúng vẫn đang ở đúng vị trí đó.

Khái niệm này không mang ý nghĩa nhiều về nội thất, mà nghiêng nhiều hơn về niềm tin vào những gì một nền giáo dục nên làm. Harkness tin rằng việc học sẽ có hiệu quả nhất khi được thực hiện cùng nhau và khi khuyến khích những ý tưởng và quan điểm đa dạng.

Cựu hiệu trưởng Tom Hassan đã mô tả sự thành công từ những chiếc bàn như những ví do điển hình nhất về cách mà tất cả chúng ta nên học cách suy nghĩ sáng tạo, sâu sắc và đồng cảm hơn khi tiếp nhận các quan điểm khác nhau từ người khác.

Đó là một sự tương phản rõ rệt so với phương pháp giảng dạy phổ biến thời đó: phân chia cấp bậc, ganh đua, mô phạm. Harkness tin rằng cách dạy tốt nhất là ngược lại: bình đẳng, hòa đồng và theo lí tưởng của Socrates, dựa trên một quá trình học hỏi và thảo luận có hướng dẫn.

Các trường trung học nội trú Canada và Hoa Kỳ, bao gồm trường Appleby, Brentwood, Branksome Hall và các trường khác, đang tiếp tục áp dụng và điều chỉnh khái niệm ban đầu của ông.

Lisa McRae, giảng viên môn tiếng Anh và xã hội học tại trường Havergal College cho biết: “Thử thách lớn nhất với một giáo viên dạy theo phương pháp Harkness là chờ đợi và lắng nghe, thay vì nói toẹt ra một mối liên hệ quan trọng mà sinh viên đang định đề cập đến.

Tôi thường lập ghi chú để đề phòng tôi cần nhấn mạnh ý nào đó sau này. Nhưng gần như chắc chắn rằng nếu tôi đợi, các sinh viên sẽ tự mình tìm ra ý đó, và họ sáng tạo hơn khi thực hiện một cuộc hành trình mà giáo viên mang tư cách một người ngồi quan sát.”

Vài người đã lưu ý rằng đúng là có thể có một số nhược điểm:

“Học tập dựa trên phương pháp thảo luận có thể mở rộng trải nghiệm của sinh viên theo nhiều cách tuyệt vời. Nhưng nó cũng có thể làm nản lòng học sinh và giáo viên, có thể là vì học sinh không thể hiểu được yêu cầu của một văn bản, một câu hỏi và một khóa học, hoặc là do giáo không thể hiểu tại sao học sinh không thấy được những gì họ thấy trong cùng một văn bản.

Thật dễ quên rằng phân tích của chúng tôi đã được củng cố bởi nhiều năm kinh nghiệm, cùng một loạt các kiến thức và nền tảng quan trọng. Mục tiêu của chúng tôi là cho sinh viên trải nghiệm sự hiểu biết phong phú đó bằng cách mô phỏng những trải nghiệm mở rộng qua nhiều lớp văn bản.

Không phải trường nào cũng sử dụng phương pháp Harkness trong các lớp học của họ, và cũng không ai đề nghị rằng họ nên làm thế. Nguyên tắc dẫn đầu, và cũng là điều mà nó đã thể hiện rất tốt, là giá trị của sự đổi mới trong công tác giảng dạy.

“Tôi đã tham gia quá nhiều cuộc trò chuyện, nơi mọi người tranh luận về lợi ích của các chương trình giảng dạy đa dạng mà không ai ghi nhận bản chất của cách một giảng viên truyền tải [ví dụ như là] một khóa học kinh tế và theo những cách nào mà sự năng động trong lớp học lại có thể quan trọng hơn nhiều so với những nội dung khác biệt mà các chương trình AP, IB và Kinh tế Ontario mang lại.”

Trong các trường hợp điển hình nhất, sự cải tiến nằm ở việc tìm ra cách hợp lí để tạo sức cuốn hút trong phòng học cho các sinh viên, và sau cùng là để rèn luyện những kĩ năng mà họ cần có khi bước vào môi trường làm việc chuyên nghiệp: suy nghĩ sáng tạo, hợp tác với người khác, và thực hiện khả năng lãnh đạo có đạo đức.

Sự phân bố thời gian ở các trường trung học nội trú tại Hoa Kỳ 

Trường nội trú tạo nên một sự chú tâm vào học tập trọn vẹn và độc đáo.

Những gì cần tìm: xem lại giáo trình và lịch học, bao gồm thời hạn của các năm học và học kỳ.

Hầu hết các trường trung học nội trú Canada và Hoa Kỳ có thời gian biểu khác biệt đáng kể so với trường công lập. Lịch học được điều chỉnh để tạo sự cân bằng giữa đời sống học tập và ngoại khóa và giúp sinh viên tận dụng tối đa thời gian của họ.

Có trường bắt đầu ngày học muộn, có trường lại vào học sớm; có trường chỉ tổ chức các lớp học vào buổi sáng, có trường lại chỉ học vào buổi chiều. Có trường lại có lịch giảng dạy kéo dài suốt sáu ngày trong một tuần. Lịch học tại các trường nghệ thuật hoặc chú trọng vào thể thao thì sẽ được sắp xếp theo lịch trình diễn và luyện tập.

“Học sinh sẽ không quay lại ký túc xá vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày chỉ để ngồi nhìn chằm chằm vào bức tường. Nếu không chơi thể thao, thì có thể họ đang diễn tập ở trên sân khấu hoặc học cách chơi một nhạc cụ nào đó. Một đứa trẻ được mẹ đón về lúc 3 giờ sẽ không được đối mặt với thử thách để phát triển các kỹ năng một cách ngang hàng. Với tôi, trường nội trú là một trải nghiệm mang lại thay đổi lớn trong việc học cách giao tiếp với người khác.”

—Pete Upham, Giám đốc điều hành Hiệp hội các Trường nội trú

trung học nội trú tại Mỹ

Nhưng có những khía cạnh kém thông thường hơn, và có lẽ quan trọng hơn, đối với cách các trường nội trú phân bố thời gian cho học sinh.

Như ông Clayton Johnson và một số người khác đã bày tỏ, chính môi trường nội trú đã giúp chúng ta có được một lối sống không có ở nơi nào khác. Bà Anne Dillard đã nói rằng: “Cách mà chúng ta sử dụng một ngày của mình, dĩ nhiên, cũng chính là những gì chúng ta sẽ làm với cuộc đời mình,” và đó là sự thật.

Trường nội trú tạo cơ hội cho học sinh tự lên kế hoạch trong ngày xoay quanh sở thích cá nhân, dành thời gian chú tâm vào học tập, làm việc nhóm, phát triển các kỹ năng, sở thích cần thiết theo một cách ý nghĩa. Đây không phải là trải nghiệm trung học thông thường, đó là lý do tại sao học sinh chọn học nội trú.

Đọc lại phần 1 bài viết tại Link

Nguồn tham khảo bài viết

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *